Đất nước đã qua hơn 20 năm đổi mới, gần 3 năm chính thức tham gia WTO, hội nhập sâu với thế giới.
Hãy cùng nhìn lại mấy nét lớn thành tựu Y tế giai đoạn đầu hội nhập, xem là tiền đề luận bàn những vấn đề cơ bản và định hướng chiến lược Y tế đến năm 2015, tầm nhìn 2030.
KHÁI QUÁT NHỮNG THÀNH TỰU Y TẾ GIAI ĐOẠN ĐẦU HỘI NHẬP
Thành tựu chung nền kinh tế xã hội đất nước nổi bật là đến nay, (số liệu năm 2008), chúng ta đã vượt qua được mốc 1000 USD thu nhập bình quân đầu người; tỉ lệ hộ nghèo (chuẩn Việt Nam)  giảm còn 12%.
Trên cơ sở kinh tế xã hội ấy, Y tế đã đạt được những thành tựu:
1. Về Y tế dự phòng:
Đã chốt giữ thành công, qua nhiều năm không để phát sinh những dịch bệnh lớn. Một số vụ việc xảy ra, nhìn chung đã bao vây, dập tắt kịp thời. Kể cả những loại dịch bệnh hiểm nghèo mới nổi như SARS, cúm A/ H5N1, và rất gần đây là cúm A/H1N1.
Các chương trình phòng chống bệnh xã hội (sốt rét, phong, lao, uốn ván, bại liệt, …) có tiến bộ. Với HIV/AIDS, các chỉ tiêu nhiễm mới, chuyển bệnh AIDS, tử vong năm 2008 so với năm trước đều đã giảm trên dưới 10%.
Tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 6 tuổi đạt tỉ lệ cao, (thường xuyên trên 90%).
2. Về khám chữa bệnh:
Hệ thống Y tế đã đáp ứng phục vụ hơn 200 triệu lượt người khám chữa bệnh hàng năm, (bình quân 2,5 lượt/1 người dân/năm); hơn 70 triệu ngày điều trị nội trú, (bình quân 8 ngày /1 bệnh nhân).
Đã chú trọng phát triển nhiều công nghệ kỹ thuật cao, ngang tầm khu vực và quốc tế như: chẩn đoán hình ảnh hiện đại, chẩn đoán phát hiện bệnh sớm, điều trị can thiệp tim mạch, sọ não, cấy ghép tạng, mổ nội soi, mổ phacô (mắt), cột sống, thụ tinh ống nghiệm.
Kết hợp Y Dược cổ truyền trên diện rộng, từ trung ương đến hầu khắp các tỉnh, huyện, xã.
3. Về Dân số - KHHGĐ:
Đã thực hiện được giảm sinh, kiềm chế tốc độ gia tăng tự nhiên khá nhanh và tương đối vững chắc.
Nhắc lại năm 1975, tỉ lệ sinh thô (CBR) còn 33,2 phần nghìn; sau 10 năm, trước đổi mới, vẫn còn trên 31 phần nghìn. Năm 1999 đã xuống dưới 20 phần nghìn. Những năm sau liên tục giữ được mức thấp và nay dưới 17 phần nghìn.
Thể hiện chỉ tiêu số con trung bình (cũng gọi là Tổng tỷ suất sinh TFR), năm 1975 còn 5,25 con; năm 1985 gần 4 con. Từ 2005, đạt mức sinh thay thế 2,1 con; những năm sau tiếp tục giảm thấp hơn nữa.
Tốc độ tăng dân số đã giảm từ 2,57% (năm 1975) xuống 1,2% (năm 2008).
Song song, các chỉ tiêu chất lượng dân số cũng dần được cải thiện.
4. Về xây dựng mạng lưới:
Chúng ta đã sớm hình thành và duy trì khá tốt mạng lưới y tế rộng khắp cả nước. Xã có Trạm Y tế; mỗi thôn, bản có 1 – 2 nhân viên y tế. Bổ khuyết cho một số vùng liên xã diện tích rộng, dân đông, có Phòng Khám Đa khoa khu vực, (hiện có gần 800 Phòng; trung bình mỗi huyện có thêm 1-2 Phòng). Tất cả các huyện đều có Bệnh viện Đa khoa. Các tỉnh, thành phố bên cạnh Bệnh viện Đa khoa, một số nơi đã có thêm nhiều ít các Bệnh viện chuyên khoa; trước hết là Bệnh viện Y học cổ truyền, Sản – Nhi, Ung bướu, …
Cùng với Y tế công lập, những năm gần đây đã phát triển thêm nhiều cơ sở Y tế ngoài công lập, (hiện có 90 Bệnh viện tư / 5600 giường, hàng ngàn Phòng khám kết hợp chữa bệnh; các hoạt động y tế phi lợi nhuận, thiện nguyện trong và ngoài nước).
Chỉ số tính trên 10.000 dân đã có 25 giường bệnh, (trong đó, tính riêng công lập từ huyện trở lên là 18 giường); 32,5 cán bộ y tế, trong đó có 6,5 bác sĩ.
Nhằm hạn chế chênh lệch số lượng và trình độ thầy thuốc giữa các vùng miền, đã thực hiện đào tạo ưu tiên vùng khó khăn (theo địa chỉ, cử tuyển); đồng thời luân chuyển đội ngũ chuyên môn cao về cơ sở, (đã và đang thực hiện theo đề án 1816; sắp tới sẽ xây dựng thành chế độ trách nhiệm đầy đủ hơn).
5. Biểu hiện chung nhất của thành tựu ngành Y tế chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân là:
Tuổi thọ bình quân của dân số đạt 72,8 tuổi.
Tỉ lệ chết sơ sinh dưới 1 tuổi (IMR) 15 phần nghìn.
(So sánh khu vực, ví dụ Philippine có mức GDP đầu người gấp bốn lần ta, song tuổi thọ đạt thấp hơn: 71 tuổi nữ và 65 tuổi nam; IMR cao hơn: 25 phần nghìn).
6. Công tác Dược và Trang thiết bị Y tế:
Coi trọng nhập khẩu những mặt hàng chất lượng cao, đồng thời tích cực phát triển sản xuất trong nước.
Về Dược, đến nay sản xuất trong nước đã đáp ứng được 50%. Một số loại thuốc, vaccine có thương hiệu xuất khẩu.
Về trang thiết bị, sản xuất trong nước đã có nhiều cố gắng, đến nay đã tạo lập được hơn 600 loại thương phẩm lưu hành. Tuy nhiên, tổng giá trị còn thấp xa mục tiêu, (Chính sách quốc gia về Trang thiết bị Y tế, banh hành theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 130/2002/QĐ-TTg, ngày 04-10-2002 qui định: năm 2005 đạt 40%, năm 2010 đạt 60% ).
***
*********
Đạt được thành tựu như kể trên, trước hết do những nỗ lực phấn đấu liên tục của cả đội ngũ rộng lớn cán bộ công nhân viên toàn ngành; sự hợp tác tích cực và có hiệu quả của các ngành, cấp, địa phương; được dắt dẫn bởi các chủ trương chính sách sáng suốt, phù hợp.
Nhấn mạnh những chủ trương lớn:
Đổi mới, giải phóng sức sản xuất;
Xác định mục tiêu hoạt động Y tế: Công bằng - Hiệu quả - Phát triển;
Coi đầu tư Y tế là một đầu tư phát triển;
Quốc hội ra Nghị quyết về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật xã hội hoá Y tế, v.v..
Bộ trưởng Nguyễn Quốc triệu
8-2009
Theo CIMSI